Mạch Sống Online
· Truyền Thông Mạch Sống
· Trang Nhà BPSOS
· Chống Nạn Buôn Người


Chuyên Mục

:: HĂY CỨU CỒN DẦU
:: Đ̉I TÀI SẢN
:: NGÀY VẬN ĐỘNG CHO VN

40 Năm Tị Nạn
An Toàn Lao Động
Bạo Hành Gia Đ́nh
Chống Nạn Buôn Người
Chủ Quyền Quốc Gia
Cứu Trợ Thiên Tai
Di Dân & Nhập Tịch
Định Cư Nhân Đạo
Lịch Sử Qua Lời Kể
Mái Ấm Gia Đ́nh
Nhân Quyền
Nhân Vật Trong Tháng
Phát Triển Cộng Đồng
Quan Điểm
Sống Đẹp
Sức Khoẻ
Tài Chánh
Tị Nạn
Thế Hệ Trẻ
Thư Toà Soạn
Tin Cập Nhật
Tin Sinh Hoạt
Tin Trang Nhất
Tin Tức Thời Sự
Truyện Ngắn
TPP
Tuổi Hạc
Tù Nhân Lương Tâm
Tự Do Tôn Giáo
Văn Khố Thuyền Nhân
Xoá Bỏ Tra Tấn

Chức Năng Thông Dụng
· Đọc Theo Chủ Đề
· Đọc Theo Số Báo
· Ghi Danh vào Email List
· Quảng Bá Mạch Sống
· Top 15
· Ư Kiến Độc Giả
· Liên lạc ṭa soạn
· Gửi bài cho Mạch Sống
· Phiếu Đóng Góp
· Census 2010
· T́m kiếm

Ghi Danh Nhận Tin
Ghi Danh Nhận Bản Tin Mạch Sống
T́m Kiếm


Hit Counter
We received
26605289
page views since June 01, 2005
MS131 - 09/13: Đằng sau chuyến đi Việt Nam năm 1997

Quan Điểm

Những Suy Nghiệm Ứng Dụng Cho Ngày Hôm Nay

Ts. Nguyễn Đ́nh Thắng

Ngày 27 tháng 8, 2013

Các diễn tiến gần đây thôi thúc tôi chia sẻ một số suy nghiệm quanh chuyến đi Việt Nam cách đây gần 16 năm. Đấy là lần đầu và độc nhất tôi về Việt Nam từ ngày làm thuyền nhân bỏ nước ra đi vào cuối năm 1978.

Đúng Ngày Quốc Tế Nhân Quyền năm 1997 tôi có mặt ở Hà Nội. Mục đích nguyên thuỷ của chuyến đi là để vận động cho nhiều chục ngàn thuyền nhân được cứu xét định cư vào Hoa Kỳ sau khi họ bị hồi hương từ các trại tạm dung ở Hồng Kông và Đông Nam Á.

Trước tai hoạ cưỡng bức hồi hương, năm 1994 BPSOS khởi xướng cuộc vận động với Quốc Hội Hoa Kỳ và được sự hưởng ứng mạnh mẽ của DB Christopher Smith và vị Tham Mưu Trưởng là Ông Grover Joseph Rees -- sau này thân quen rồi th́ tôi gọi là anh Joseph. Khi Đông Timor giành được độc lập, anh Joseph đă trở thành vị đại sứ Hoa Kỳ đầu tiên ở quốc gia tân lập này.

DB Smith đă triệu tập một loạt ba buổi điều trần về những sai sót trong chương tŕnh “thanh lọc” mà hậu quả là biết bao nạn nhân của sự đàn áp đă bị từ  khước quyền tị nạn và đứng trước hiểm hoạ cưỡng bức hồi hương. Trung b́nh chỉ có 10% thuyền nhân được xét là tị nạn và cho đi định cư ở quốc gia tự do; số 90% c̣n lại sẽ phải hồi hương. Tại các buổi điều trần liên tiếp, BPSOS đưa ra nhiều nhân chứng và chứng cớ không thể phủ nhận về sự bất công của các quốc gia tạm dung và sự tắc trách của Cao Uỷ Tị Nạn LHQ trong việc cứu xét tư cách tị nạn của thuyền nhân.

Căn cứ vào đó, DB Smith đưa ra luật chống cưỡng bức hồi hương thuyền nhân và luật này được lưỡng viện Quốc Hội thông qua với đa số áp đảo. Nội dung của luật này thật đơn giản: cấm LHQ không được dùng tiền thuế của dân Mỹ để tài trợ việc cưỡng bức hồi hương thuyền nhân bởi Hồng Kông và các quốc gia Đông Nam Á cho đến khi mọi thuyền nhân được nhân viên di trú Hoa Kỳ xét lại tư cách tị nạn.

 

 

Phái đoàn thăm các thương phế binh VNCH, Sàig̣n, tháng 12, 1997



Các chính quyền Hồng Kông và Đông Nam Á có chính sách cưỡng bức hồi hương nhưng lại không có ngân sách cho việc này; họ trông cậy vào ngân sách của LHQ. Luật mà DB Smith đưa ra sẽ chặn đứng cỗ xe cưỡng bức hồi hương v́ phần lớn ngân sách của LHQ lại do Hoa Kỳ đóng góp.

Khi luật này chuyển đến Toà Bạch Ốc th́ Tổng Thống Bill Clinton phủ quyết nó. Nhưng bù lại, Toà Bạch Ốc đồng ư cùng với Quốc Hội t́m giải pháp cho các thuyền nhân đang ở các trại tạm dung, trước ngưỡng cửa cưỡng bức hồi hương. Người đại diện Toà Bạch Ốc để làm việc với Quốc Hội là anh Eric Schwartz, Phụ Tá Đặc Biệt về Nhân Quyền của Tổng Thống. Tôi quen anh Eric từ nhiều năm trước, khi anh ấy hăy c̣n là thực tập sinh của DB Stephen Solarz. Sau này, khi Bà Hillary Clinton làm Ngoại Trưởng, anh Eric được bổ nhiệm làm Giám Đốc Văn Pḥng Dân Số, Tị Nạn và Di Dân của Bộ Ngoại Giao. 

Sau nhiều đợt thương thảo với các chính quyền liên hệ và áp lực lên Cao Uỷ Tị Nạn LHQ, một giải pháp thành h́nh dưới tên Resettlement Opportunity for Vietnamese Returnees (ROVR) -- các thuyền nhân phiên âm thành “chương tŕnh Rô”. Theo đó, tất cả thuyền nhân sẽ phải hồi hương và Hoa Kỳ sẽ cử nhân viên di trú đến Việt Nam phỏng vấn và nhận định cư những ai hội đủ một số tiêu chuẩn. Chúng tôi đă vận động để các tiêu chuẩn này rộng lượng tối đa trong phạm vi có thể của luật pháp Hoa Kỳ.

Chính quyền Việt Nam, lúc ấy vừa mới thiết lập bang giao với Hoa Kỳ, cũng đồng ư với giải pháp này nhưng sau đó không giữ lời. Sau khi các thuyền nhân đă hồi hương, chính quyền Việt Nam tuyên bố rằng họ không cần phải đi đâu cả v́ đă ổn định với cuộc sống yên ấm ở Việt Nam. Trong khi đó hầu như ngày nào tôi cũng nhận được, qua các lá thư, lời rên siết của đồng bào cựu thuyền nhân sau khi về Việt Nam. Họ báo cho tôi biết các trường hợp bị bỏ tù, giam lỏng và trù dập.

Trước bế tắc ấy, DB Smith đă sắp xếp để anh Joseph và tôi nói chuyện riêng với Đại Sứ Douglas “Pete” Peterson, vị đại sứ Hoa Kỳ đầu tiên ở Việt Nam sau khi hai quốc gia thiết lập bang giao, khi ông ta ghé về Mỹ. ĐS Peterson tỏ vẻ quan tâm đến việc giải quyết bế tắc của thuyền nhân hồi hương. Khi chúng tôi nêu lên các vi phạm nhân quyền ở Việt Nam, th́ ĐS Peterson nhận xét rằng tôi đă rời quê hương từ lâu nên không thấy được những thay đổi ở Việt Nam. Ông buột miệng nói, “Ông hăy về thăm Việt Nam một chuyến cho biết.” Tôi đáp lại: “Ông mời đi; tôi sẽ về trong tư cách khách mời của Toà Đại Sứ Hoa Kỳ.”

Thế là phái đoàn chúng tôi chuẩn bị đi Việt Nam, gồm có DB Smith, anh Joseph, và tôi, theo lời mời của ĐS Peterson. DB Smith nhất định đ̣i gặp LM Nguyễn Văn Lư. Việt Nam không chấp nhận. DB Smith huỷ chuyến đi vào phút chót để phản đối. Phái đoàn chỉ c̣n có anh Joseph và tôi.

Lúc ấy tôi c̣n đang làm việc tại một trung tâm nghiên cứu của Bộ Hải Quân Hoa Kỳ. Theo đ̣i hỏi quốc pḥng, tôi làm sẵn mọi thủ tục kiểm tra an ninh để sẵn sàng lên đường khi có chiếu khán.

Đến ngày phái đoàn lên đường, tôi vẫn chưa có chiếu khán nhập cảnh Việt Nam. Văn pḥng của DB Smith liên lạc Toà Tổng Lănh Sự Việt Nam ở Hoa Thịnh Đốn th́ họ chỉ nói bâng quơ là đă chuyển đơn sang Toà Tổng Lănh Sự Việt Nam bên Mexico v́ đây là chiếu khán công vụ và đơn đang được cứu xét. Anh Joseph lên đường đi trước.  

Sau hai ngày vẫn không có chiếu khán, tôi biết rằng phía Việt Nam cố t́nh nh́ nhằng cho tôi bị hụt chuyến đi. Tôi quyết định bay vào Việt Nam không chiếu khán. Bằng mọi giá tôi phải vào Việt Nam v́ chuyến đi đă được chúng tôi chuẩn bị với một số mục đích cụ thể, và anh Joseph rất khó xoay xở một ḿnh.

Trước khi lên đường, tôi gọi điện thoại cho anh Bill Fleming, Tổng Lănh Sự Hoa Kỳ ở Hà Nội và là một người thân quen từ lâu. Tôi dặn anh ra đón ở phi trường Nội Bài, và nếu không thấy tôi th́ t́m trong… nhà giam nào đó. Anh Bill lấy vợ Việt và nói tiếng Việt rất sơi.

Ở phi trường Nội Bài, khi đến quầy kiểm tra di dân, nhân viên kiểm tra trao cho tôi một b́ thư, mở ra th́ là chiếu khán cấp tại chỗ. Anh Bill chở tôi về Toà Đại Sứ, nơi đây tôi gặp anh Joseph và nhân viên Toà Đại Sứ có nhiệm vụ "hộ tong" phái đoàn. Nhân viên này cho biết là bên Bộ Nội Vụ (sau này đổi thành Bộ Công An) muốn gặp riêng tôi, không có anh Joseph. Tôi trả lời là sẵn sàng với điều kiện phải có sự hiện diện của nhân viên Toà Đại Sứ Hoa Kỳ.

Tối hôm ấy, ngay trong ngày đầu có mặt ở Việt Nam, tôi cùng với một nhân viên Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ra bờ hồ dùng cơm chiều với hai giới chức Bộ Nội Vụ. Họ cho biết là họ có cả một hồ sơ dầy một gang tay về tôi và ra đường không cần giới thiệu họ cũng nhận diện được tôi. Họ nói rằng nhiều bài viết của tôi có những điểm tiêu cực về chế độ, và rằng đất nước đă đổi thay mà tôi đi xa quá lâu nên không nắm bắt được t́nh h́nh. Họ khoe rằng họ đă từng đi Hoa Kỳ nhiều lần và họp riêng với một số khuôn mặt tranh đấu trong cộng đồng Việt ở Mỹ mà tôi không xa lạ. Tôi cười cười mà không tỏ thái độ ǵ v́ biết rằng đấy là kế ly gián.

Sau phần mào đầu, họ bày tỏ quan điểm hoài nghi về chủ ư của Hoa Kỳ trong chương tŕnh ROVR: “Hoa Kỳ cố t́nh dùng vấn đề thuyền nhân để khuậy cho thủm chén nước mắm nhằm gây xáo trộn nội t́nh Việt Nam. Chứ không th́ tại sao không định cư thẳng thuyền nhân từ các quốc gia tạm dung mà lại bắt họ hồi hương rồi mới đ̣i vào Việt Nam để phỏng vấn định cư họ.”

Hiểu cách nh́n đa nghi của nhà nước Việt Nam, tôi giải thích: “Không phải vậy. Hoa Kỳ muốn thực hiện phỏng vấn ở ngay các trại tạm dung và chúng tôi đă hết sức tranh đấu cho điều này. Tuy nhiên các chính quyền trong vùng không chấp nhận v́ làm vậy sẽ khuyến khích thuyền nhân tiếp tục đến đất nước họ với tâm lư là cứ ở ĺ vài năm rồi cũng sẽ được Hoa Kỳ đón đi. Các chính quyền trong vùng quyết tâm dứt điểm làn sóng thuyền nhân.”

Hai giới chức Bộ Nội Vụ không thắc mắc hay đôi co thêm về điểm này.

Trong những ngày sau, khi vào Sàig̣n, phái đoàn 2 người chúng tôi với sự hộ tống thường trực của một nhân viên lănh sự Hoa Kỳ đă tiếp xúc với các thuyền nhân bị ép hay bị cưỡng bức hồi hương. Từ nhiều tuần trước khi lên đường, phái đoàn chúng tôi đă phải nộp cho Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam danh sách các thuyền nhân mà chúng tôi muốn gặp. Toà Đại Sứ chuyển danh sách ấy cho chính quyền Việt Nam để xin phép. Khi nhận lại th́ danh sách được phép gặp phái đoàn đă bị thay đổi phần nào: có một số thuyền nhân bị gạt tên ra khỏi danh sách, và có những tên tuổi khác được đưa vào danh sách. Điều này không có ǵ đáng ngạc nhiên.

Điều đáng ngạc nhiên là khi gặp chúng tôi, tất cả những thuyền nhân trong danh sách cho phép bởi nhà nước Việt Nam đă thố lộ tất tật nỗi uẩn ức, bất chấp có người của nhà nước ngồi ngay bên. Họ kể về những khó khăn, bức ép trong cuộc sống và về nguyện vọng được đi Mỹ. Những thuyền nhân này đều đă biết đến những hoạt động của BPSOS khi họ c̣n ở trong trại tạm dung và có lẽ v́ vậy mà họ thà chấp nhận sự trả thù để đổi lấy hy vọng được giải cứu.

Thực ra, chúng tôi đă “thủ” sẵn một danh sách riêng, gồm những thuyền nhân mà tôi biết rằng không bao giờ được phép gặp phái đoàn chúng tôi. Những thuyền nhân này đă liên lạc với tôi từ trước và cho biết là họ đang bị quản chế, đày đoạ. Sau giờ hành chính, khi không c̣n nhân viên lănh sự đi kèm, anh Joseph và tôi đi gặp họ. Ai ai cũng ta thán. Những điều họ tŕnh bày không mới lạ ǵ với tôi, nhưng quan trọng là anh Joseph được nghe trực tiếp từ các thuyền nhân hồi hương để rồi tường tŕnh với Quốc Hội, Bộ Ngoại Giao và Toà Bạch Ốc.

Dựa vào những thông tin của phái đoàn chúng tôi, cả Quốc Hội và Hành Pháp Hoa Kỳ sau đó đă cùng áp lực Việt Nam phải chấp nhận cho các thuyền nhân ra đi như là điều kiện để nới rộng quan hệ với Hoa Kỳ. Cuối năm 1998 đợt thuyền nhân đầu tiên lên đường và tổng cộng trên 18 ngàn cựu thuyền nhân đă đến Hoa Kỳ định cư. Về sau, chương tŕnh ROVR này được nới rộng để định cư gần hai ngàn cựu thuyền nhân c̣n kẹt ở Phi Luật Tân -- v́ không bị cưỡng bức hồi hương nên họ đă không được hưởng quyền lợi của chương tŕnh ROVR vốn chỉ thực hiện ở Việt Nam.

Nhưng đấy chỉ là một trong ba mục đích của chuyến đi. Mục đích thứ hai là vận động mở ra chương tŕnh tị nạn trực tiếp từ Việt Nam đến Hoa Kỳ, làm lối thoát cho những trường hợp bị đàn áp cực kỳ nặng nề. Năm 1996 khi quốc tế, với sự đồng ḷng của Hoa Kỳ, quyết tâm chấm dứt con đường vượt biển t́m tự do th́ cũng có nghĩa là nạn nhân của sự đàn áp ở Việt Nam sẽ hoàn toàn không c̣n lối thoát. Đây là một triển vọng đen tối, nhất là cho những người tranh đấu cần thoát hiểm.

Anh Joseph và tôi cố gắng thuyết phục ĐS Peterson ủng hộ cho việc mở lại chương tŕnh P1 (Priority One), vốn đă bị chấm dứt v́ Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ muốn đóng lại tất cả mọi chương tŕnh tị nạn cho người Việt -- kể cả thuyền nhân, HO, con lai và P1 -- để rộng đường phát triển quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Sau nhiều lần trao đổi, cuối cùng ĐS Peterson đồng ư sẽ bày tỏ với Bộ Ngoại Giao sự ủng hộ việc mở lại chương tŕnh P1.

Đây là một chương tŕnh định cư tị nạn trực tiếp từ các quốc gia vi phạm nhân quyền mà không qua sự môi giới của Cao Uỷ Tị Nạn LHQ. Chương tŕnh này ít phổ biến ra ngoài, có tiêu chuẩn rất khắt khe, và chỉ dành cho những trường hợp được đề nghị bởi Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở mỗi quốc gia.

Khi về Hoa Kỳ, chúng tôi phối hợp với DB Smith và anh Eric Schwartz, Phụ Tá Đặc Biệt về Nhân Quyền của Tổng Thống, để thúc đẩy Bộ Ngoại Giao mở lại và nới rộng chương tŕnh P1. Cuối cùng chương tŕnh P1 được mở lại, và được nới rộng hiểu theo nghĩa là, ngoài Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Hà Nội th́ các nhà lập pháp ở Quốc Hội và một số tổ chức chọn lọc cũng có quyền giới thiệu hồ sơ để được cứu xét theo diện P1.

Từ đó đến nay khoảng 50 người thuộc nhiều thành phần đă được định cư qua chương tŕnh P1 này. Trong đó có các nhà tranh đấu dân chủ và nhân quyền, một số mục sư Tin Lành, nhiều giáo dân Công Giáo, một số tu sĩ Phật Giáo, và một vài thành viên của Phật Giáo Hoà Hảo. Các người cháu của LM Nguyễn Văn Lư, trong đó Nguyễn Vũ Việt vừa được thụ phong linh mục là được nhiều người biết đến, và gia đ́nh cũng đến Hoa Kỳ qua chương tŕnh P1 này.

 

 

Gia đ́nh các người cháu của LM Nguyễn Văn Lư khi vừa đặt chân đến Hoa Kỳ, 23 tháng 9 2005. Bà Ngô Thị Hiền (đứng giữa), Chủ Tịch Uỷ Ban Tự Do Tôn Giáo Cho Việt Nam, đón họ ở phi trường.

Mục đích thứ ba của chúng tôi mang ư nghĩa sâu rộng hơn cả. Đó là bắc những cầu nối đầu tiên giữa các nhà bất đồng chính kiến ở trong nước với các giới chức chính phủ Hoa Kỳ. Ư của chúng tôi là từng bước thuyết phục chính phủ Hoa Kỳ thừa nhận những nhà bất đồng chính kiến là thành phần đối tác song hành với chính quyền Việt Nam.

Trong thời gian ngắn ngủi 2 ngày ở Hà Nội và 2 ngày ở Sàig̣n, dù bị theo dơi rất gắt, chúng tôi đă đi gặp những người như: Ông Hoàng Minh Chính, Ts. Nguyễn Thanh Giang, Tướng Trần Độ, LM Chân Tín, gia đ́nh cụ Vũ Đ́nh Huỳnh, gia đ́nh cụ Trần Hữu Duyên bên Phật Giáo Hoà Hảo, một số nhà sư bên Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất... Lúc ấy chưa có việc Toà Đại Sứ Hoa Kỳ tiếp xúc với các thành phần bất đồng chính kiến. Khi anh Joseph và tôi gặp ba tu sĩ Phật Giáo ở một góc đường vắng vẻ, hoàn toàn nằm ngoài thời khoá biểu chính thức, nhân viên lănh sự đi cùng hốt hoảng tuyên bố: “Tôi không biết ǵ về việc này. Tôi không muốn bị phiền hà với chính quyền Việt Nam.” Và anh ấy bỏ đi một mạch, để chúng tôi ở lại nói chuyện với các nhà sư.

Người làm tôi cảm kích nhất là Tướng Trần Độ. Vị tướng về hưu này rất bộc trực. Hồi tưởng tuổi thanh niên tham gia Việt Minh, Ông tâm sự: “Lúc ấy thấy Pháp ác với dân ḿnh, nên nghe Việt Minh chống Pháp th́ tôi theo chứ có biết ǵ về chủ nghĩa cộng sản.” Anh Joseph hỏi tiếp là bây giờ th́ nghĩ sao về chế độ cộng sản. Tướng Trần Độ trả lời không ngập ngừng: “Chế độ này c̣n tệ hơn thực dân Pháp trước kia” và trưng dẫn một loạt những lư do để minh chứng cho nhận xét này. Tướng Trần Độ góp nhiều ư kiến thực tiễn để Quốc Hội Hoa Kỳ có thể giúp tiến tŕnh dân chủ hoá Việt Nam.

Tại mỗi buổi gặp gỡ, bên cạnh những trao đổi riêng, chúng tôi đều hỏi một câu hỏi chung, “nếu như Quốc Hội Hoa Kỳ ban hành luật để yểm trợ vấn đề nhân quyền ở Việt Nam th́ nên có những điều khoản nào và có nên kèm theo những biện pháp chế tài?”

Lúc ấy ở hải ngoại có những luồng dư luận cho rằng những nhà bất đồng chính kiến kể trên là “đối lập cuội”. Thực ra những ư kiến mà chúng tôi thu thập từ họ đă góp phần không nhỏ cho nội dung của Luật Nhân Quyền Cho Việt Nam mà DB Smith đưa ra sau đó. Luật Nhân Quyền Cho Việt Nam đă trở thành một phương tiện tranh đấu nhân quyền suốt từ đó đến giờ.

Đối với các nhà bất đồng chính kiến, lần tiếp xúc trực tiếp đầu tiên này với một giới chức Hoa Kỳ là yếu tố cổ động tinh thần và đă mở cửa cho những lần tiếp xúc tiếp theo. Khi trở về Hoa Kỳ, anh Joseph và tôi cùng viết bài trên báo Asian Wall Street Journal để giới thiệu các khuôn mặt bất đồng chính kiến ở Việt Nam với quốc tế. Chúng tôi sắp xếp để hễ có phái đoàn Quốc Hội đến Việt Nam th́ gặp gỡ các nhà bất đồng chính kiến. Chúng tôi khuyến khích ĐS Peterson và các giới chức Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ tiếp xúc thường xuyên với các nhà bất đồng chính kiến. Dần dà, việc tiếp xúc này trở thành thông lệ, không c̣n như năm 1997 khi mà nhân viên lănh sự Hoa Kỳ hốt hoảng bỏ đi khi bất ngờ thấy chúng tôi gặp một số nhà sư áo vàng ở một góc đường vắng giữa Sàig̣n.

Chúng tôi không ngưng ở đó. Khi các nhà tranh đấu ở trong nước đến Hoa Kỳ, hoặc định cư tị nạn hoặc chỉ là thăm viếng, chúng tôi đă sắp xếp để họ tiếp xúc các giới chức Bộ Ngoại Giao và các thành viên Quốc Hội, và có khi ra điều trần trước Quốc Hội. Mục đích là đưa tiếng nói của đội ngũ tiên phong của phong trào dân chủ ở quốc nội đến với chính giới Hoa Kỳ.

Nguyễn Vũ Việt, cháu của LM Nguyễn Văn Lư, chia sẻ với DB Christopher Smith về t́nh trạng tù đày của LM Lư và các vi phạm tự do tôn giáo ở Việt Nam, năm 2005.

 

Cứ vậy, tiếng nói của các nhà bất đồng chính kiến ở Việt Nam được lắng nghe bởi ngày càng nhiều giới chức Lập Pháp và Hành Pháp Hoa Kỳ.

Có lẽ v́ vậy mà từ đó trở đi, mỗi khi phái đoàn của chính phủ Hoa Kỳ đi Việt Nam mà có tên tôi th́ chính quyền Việt Nam nói thẳng ra là sẽ không cấp chiếu khán, chứ không c̣n úp mở như trước. Thực ra tôi không có nhu cầu đến Việt Nam lần hai v́ chuyến đi năm 1997 đă tạo đủ cơ hội để tiếp tục khai dụng từ hải ngoại. 

Từ chuyến đi ấy, tôi rút ra những suy nghiệm có thể soi sáng một số vấn đề hôm nay.

<!--[if !supportLists]-->(1)    <!--[endif]-->Công cuộc vận động cho Việt Nam là một hành tŕnh, và thành quả được gặt hái trên mỗi chặng đường chứ không phải ở cuối lộ tŕnh theo tinh thần “được ăn cả, ngă về không”. Trước đây, luật chống cưỡng bức hồi hương thuyền nhân Việt Nam do DB Smith đưa ra đă bị TT Clinton phủ quyết, nhưng áp lực của Quốc Hội đủ mạnh để Toà Bạch Ốc phải tương nhượng và hợp tác giải quyết t́nh trạng thuyền nhân một cách nhân đạo. Tương tự, chúng ta cần khai thác Luật Nhân Quyền Cho Việt Nam (HR 1897) ngay trong tiến tŕnh đang vận động để áp lực Hành Pháp Hoa Kỳ có thái độ mạnh mẽ về nhân quyền trong mọi đối tác với Việt Nam, nhất là trong tiến tŕnh thương thảo mậu dịch đối tác xuyên Thái B́nh Dương (TPP) và đ̣i tự do cho tất cả tù nhân lương tâm.

 

<!--[if !supportLists]-->(2)    <!--[endif]-->Thay v́ nói hộ, chúng ta cần tạo tiếng nói và thế đứng cho những người đấu tranh ở trong nước trên trường quốc tế: đừng để bóng ḿnh che khuất ánh sáng chiếu rọi vào đội ngũ tiên phong này. Chính những tiếp xúc trực tiếp với các nhà đấu tranh ở trong nước hay vừa đến Hoa Kỳ đă thôi thúc DB Christopher Smith và một số vị dân biểu khác tranh đấu không mệt mỏi cho nhân quyền ở Việt Nam trong suốt 16 năm qua. Mới đây phái đoàn nhân viên lập pháp của Uỷ Ban Đối Ngoại của Hạ Viện Hoa Kỳ cũng gặp một số “sĩ phu Nam Hà và Bắc Hà”; những góp ư của họ cũng sẽ có tác dụng tương tự.

 

<!--[if !supportLists]-->(3)    <!--[endif]-->Chúng ta cần bảo vệ cho những người tranh đấu khi họ gặp nguy nan, không những v́ đạo đức nhân bản mà c̣n v́ nghĩa vụ bảo vệ đội ngũ tiên phong của nền dân chủ tương lai. Trước đây đă có người lập luận rằng thà để các nhà tranh đấu đi tù, chứ giúp họ thoát ra ngoại quốc th́ không c̣n người ở lại đấu tranh. Tôi quan niệm ngược lại: Những nhà tranh đấu vẫn góp phần tích cực, dù ở trong nước hay ở ngoài nước, khi họ c̣n cơ hội hoạt động. Ra ngoài, vai tṛ có thể thay đổi nhưng họ vẫn đóng góp cho việc chung, và chắc chắn hữu dụng hơn là ngồi tù. Vận động cho chương tŕnh P1 trước đây hay hoạt động ở Thái Lan hiện nay để bảo vệ cho đồng bào tị nạn, trong đó có không ít các nhà đấu tranh vừa thoát hiểm, thể hiện quan điểm này của chúng tôi.

 

<!--[if !supportLists]-->(4)    <!--[endif]-->Chúng ta nên có cách nh́n rộng lượng đối với những người từng phục vụ cho chế độ nhưng nay đă nh́n ra vấn đề, đă chuyển hướng và đang quyết tâm tranh đấu cho lẽ phải, cho sự sống c̣n của dân tộc. Chúng ta không nên vội vă kết luận rằng họ là “c̣ mồi”. Có cách để đo lường thực tâm của mỗi người nhưng phải hành động kín đáo và khéo léo. Những người như Tướng Trần Độ, Ông Hoàng Minh Chính, LM Chân Tín… không thể là “đối lập cuội” khi họ kêu gọi các vị dân biểu Hoa Kỳ tranh đấu cho nhân quyền ở Việt Nam. Nhiều người mà chúng tôi tiếp xúc năm 1997 nay đă ra người thiên cổ, không thể biện bạch cho chính ḿnh, nên tôi càng thấy có trách nhiệm lên tiếng v́ công tâm và cũng để cảnh giác cho nhau tâm lư phán đoán người khác “có tội cho đến khi chứng minh được ḿnh vô tội”. Cách nh́n ấy không phù hợp tinh thần dân chủ mà chúng ta đang cổ suư.

 

<!--[if !supportLists]-->(5)    <!--[endif]-->Những đ̣n ly gián sẽ vô hiệu nếu chúng ta đủ sáng suốt để không trở thành chiếc loa khuếch tán các luận điệu gây dị nghị mà chính quyền Việt Nam nhả ra nhằm lũng đoạn tập thể người Việt tị nạn. Thái độ cả tin đối phương để rồi hoài nghi người cùng chiến tuyến là yếu tố nguy hiểm hơn Nghị Quyết 36 gấp bội.

 

 

Bài liên quan:

Bảo Vệ Đội Ngũ Tiên Phong Của Nền Dân Chủ Tương Lai
http://www.machsong.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2724

Hành tŕnh xác tín của một tu sĩ công giáo
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/journ-to-affir-faith-05302013075612.html

 

 

Posted on Tuesday, August 27 @ 11:39:52 EDT by ngochuynh
 
Related Links
· More about Quan Điểm
· News by ngochuynh


Most read story about Quan Điểm:
Chúng Tôi Không Là Việt Kiều

Article Rating
Average Score: 5
Votes: 7


Please take a second and vote for this article:

Excellent
Very Good
Good
Regular
Bad

Options

 Printer Friendly Printer Friendly

 
Copyright © 2005 by MachSong, Inc.
PHP-Nuke © 2004 by Francisco Burzi
Mach Song Online.
Publisher: Nguyen Dinh Thang