Mạch Sống Online
· Truyền Thông Mạch Sống
· Trang Nhà BPSOS
· Chống Nạn Buôn Người


Chuyên Mục

:: HĂY CỨU CỒN DẦU
:: Đ̉I TÀI SẢN
:: NGÀY VẬN ĐỘNG CHO VN

40 Năm Tị Nạn
An Toàn Lao Động
Bạo Hành Gia Đ́nh
Chống Nạn Buôn Người
Chủ Quyền Quốc Gia
Cứu Trợ Thiên Tai
Di Dân & Nhập Tịch
Định Cư Nhân Đạo
Lịch Sử Qua Lời Kể
Mái Ấm Gia Đ́nh
Nhân Quyền
Nhân Vật Trong Tháng
Phát Triển Cộng Đồng
Quan Điểm
Sống Đẹp
Sức Khoẻ
Tài Chánh
Tị Nạn
Thế Hệ Trẻ
Thư Toà Soạn
Tin Cập Nhật
Tin Sinh Hoạt
Tin Trang Nhất
Tin Tức Thời Sự
Truyện Ngắn
TPP
Tuổi Hạc
Tù Nhân Lương Tâm
Tự Do Tôn Giáo
Văn Khố Thuyền Nhân
Xoá Bỏ Tra Tấn

Chức Năng Thông Dụng
· Đọc Theo Chủ Đề
· Đọc Theo Số Báo
· Ghi Danh vào Email List
· Quảng Bá Mạch Sống
· Top 15
· Ư Kiến Độc Giả
· Liên lạc ṭa soạn
· Gửi bài cho Mạch Sống
· Phiếu Đóng Góp
· Census 2010
· T́m kiếm

Ghi Danh Nhận Tin
Ghi Danh Nhận Bản Tin Mạch Sống
T́m Kiếm


Hit Counter
We received
19977562
page views since June 01, 2005
Hồi Tưởng Của Một Người Hà Nội

Lịch Sử Qua Lời Ke

Nguyễn Văn Luận

 www.planbooktravel.com.au/attractions/sa/adel...Ông Ḥa là cựu sĩ quan Cộng Ḥa, bị Cộng Sản bắt tù năm 1975, rồi sang Mỹ theo diện HỌ Tôi gặp ông tại một tiệc cưới rồi thành bạn. Chúng tôi thường gặp nhau v́ cùng sở thích, dù trong quá khứ ông sống tại miền Nam, tôi ở xứ Bắc.

Một lần, cháu Thu Lan, con ông Ḥa, hỏi tôi: “Bác ở Hà Nội mà cũng đi tị nạn à?” Nghe hỏi một câu ngây thơ như vậy nên tôi chỉ cười: “Cái cột đèn mà biết đi, nó cũng đi... huống chi là bác!”

Thực ra tôi đă không trốn thoát được từ lần đầu “vượt tuyến” vào miền Nam, thêm nhiều lần nữa và hai lần “vượt biển” vẫn không thoát, chịu đủ các “nạn” của chế độ Cộng Sản trong 27 năm ở lại miền Bắc. Tôi không “tị nạn” mà di t́m tự do, trở thành “thuyền nhân”, đến nước Mỹ năm 1982.



Sinh trưởng tại Hà Nội, những năm đầu sống ở Mỹ, tôi đă gặp nhiều câu hỏi như cháu Thu Lan, có người v́ ṭ ṃ, có người giễu cợt, thời gian rồi cũng hiểu nhaụ Tôi hằng suy nghĩ và muốn viết những ḍng hồi tưởng, vẽ lại bức tranh Hà Nội hôm xưa, tặng thế hệ trẻ và riêng cho những người Hà Nội “di cư”.

Người dân sống ở miền Nam trù phú, kể cả hàng triệu người di cư từ miền Bắc, đă không biết được những ǵ xảy ra tại Hà Nội thời Cộng Sản chưa vận com-lê, đeo cà vạt, phụ nữ không mặc áo dàị

Hiệp định Geneve chia đôi nước Việt. Cộng Sản, chưa lộ mặt là Cộng Sản, tràn vào miền Bắc tháng 10 năm 1954. Người Hà Nội đă “di cư” vào miền Nam, bỏ lại Hà Nội hoang vắng, tiêu điều, với chính quyền mới là Việt Minh, đọc tắt thành Vẹm. V́ chưa trưởng thành, tôi đă không hiểu thế nào là Vẹm!

Khi “tiếp quản” Hà Nội, tôi đang ở Hải Pḥng. Dân đông nghịt thành phố chờ “tầu há mồm” để di cư. Trước Nhà Hát Lớn, va li, ḥm gỗ, bao gói xếp la liệt. Lang thang chợ trời, tôi chờ cha tôi quyết định đi Nam hay ở lạị Hiệp định Geneve ghi nước Việt Nam chỉ tạm thời chia cắt, hai năm sau sẽ “tổng tuyển cử thống nhất”. Ai ngờ Cộng Sản miền Bắc “tổng tấn công miền Nam!”

Gia đ́nh lớn của tôi không ai làm cho Pháp cũng không ai theo Việt Minh. Cha tôi làm chủ một hăng thầu; ông nghĩ đơn giản là dân thường nên ở lạị Tôi phải về Hà Nội học.
Chuyến xe lửa Hà Nội “tăng bo” tại ga Phạm Xá; nghĩa là hai chính quyền, hai chế độ, ngăn cách bởi một đoạn đường vài trăm mét, phải đi bộ hoặc xe ngựạ Người xuống Hải Pḥng ùn ùn với hành lư để đi Nam; người đi Hà Nội là con buôn, mang “xăng” về bán. Những toa tàu chật cứng người và chất cháy, từ chai lọ đến can chứa nhà binh, leo lên nóc tàu, bíu vào thành toa, liều lĩnh, hỗn loạn.

Tới cầu Long Biên tức là vào Hà Nộị Tàu lắc lư. Người va chạm ngườị Thằng bé chạc 15 tuổi quắc mắt nh́n tôi: “Đề nghị đồng chí xác định lại thái độ, lập trường, tư tưởng!” Tôi bàng hoàng v́ thứ ngoại ngữ Trung quốc, phiên âm thành tiếng Việt, nghe lần đầu không hiểu, để rồi phải “học tập” suốt 20 năm “ngoại ngữ Cộng Sản”: đấu tranh, cảnh giác, căm thù và... tiêu diệt giai cấp! (Thứ ngôn ngữ này, xin ghi trong ngoặc kép).

Hà Nội im ĺm trong tiết đông lạnh giá. Người Hà Nội e dè nghe ngóng từng “chính sách” mới ban hành. “Cán bộ” và “bộ đội” chỉ khác nhau có ngôi sao trên mũ bằng nan tre, phủ lớp vải màu cỏ úa, gọi là “mũ bộ đội”, sau này có tên là “nón cối”. Hà Nội “xuất hiện” đôi dép “B́nh Trị Thiên”, người Bắc gọi là “dép lốp”, ghi vào lịch sử thành “dép râu”. Chiếc áo dài duyên dáng, thướt tha của thiếu nữ Hà Nội được coi là “biểu hiện” của “tư sản, phong kiến”, biến mất trong mười mấy năm sau v́ “triệt để cách mạng”. Lần đầu tiên, “toàn thể chị em phụ nữ” đều mặc giống nhau: áo “sơ mi”, quần đen. Hạn hữu như đám cưới mới mặc sơ mi trắng v́ “cả nước” không có xà pḥng.

Chơi vơi trong Hà Nội, tôi đi t́m thầy xưa, bạn cũ, nhưng họ hầu hết đă đi Nam. Tôi phải học năm cuối cùng Tú Tài 2 cùng một số “Lớp Chín hậu phương”, năm sau sẽ sát nhập thành “hệ mười năm”. Số học sinh “Lớp Chín” này vào lớp không phải để học, mà là “tổ chức Hiệu Đoàn”, nhận “Chỉ Thị của Thành Đoàn” rồi “phát động Phong Trào Chống Văn Hoá Nô Dịch”. Họ truy lùng... đốt sách! Tôi đă phải nhồi nhét đầy ba bao tải sách, “Hiệu Đoàn”, “kiểm tra”, lục lọi từ quyển vở chép thơ, nhạc, đến tiểu thuyết và sách quí mang “tập trung” tại Thư Viện phố Tràng Thi để đốt. Lửa cháy bập bùng mấy ngày trong niềm “phấn khởi” với lời hô khẩu hiệu “quyết tâm”, và phát biểu của bí thư Thành Đoàn: tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn là “cực kỳ phản động!”. Vào lớp học với những “phê b́nh, kiểm thảo, cảnh giác, lập trường”, tôi đành bỏ học. Chiếc radio Philip “tự nguyện” mang ra “đồn công an”, thế là hết gia tài của tôi!

Mất đời học sinh, tôi bắt đầu cuộc sống đọa đày v́ “thành phần giai cấp”, “sổ hộ khẩu”, “tem phiếu thực phẩm”, “lao động nghĩa vụ hàng tháng”. Đây là chính sách dồn ép thanh niên Hà Nội đi “lao động công trường” miền rừng núi xa xôị Tôi chỉ bám Hà Nội được hai năm là bị “cắt hộ khẩu” đi tù!

Tết đầu tiên sau “tiếp quản”, c̣n được gọi là “sau ḥa b́nh lập lại”, Hà Nội mơ hồ. Những bộ mặt vàng vơ, áo quần nhầu nát, xám xịt, thái độ “ít cởi mở”, từ “nông thôn” kéo về chiếm nhà người Hà Nội di cư. Nguời Hà Nội ở lại bắt đầu hoang mang v́ những tin đồn và “chỉ thị”: ăn Tết “đơn giản, tiết kiệm”. Hàng hóa hiếm dần, “hàng nội” thay cho “hàng ngoại”.

Âm thầm tôi dạo bước bên bờ Hồ Gươm tối 30 Tết. Tháp Rùa, Cầu Thê Húc nhạt nḥa, ảm đạm. Đền Ngọc Sơn vắng lặng. Chỉ có Nhà Thuỷ Tạ đêm nay có ca nhạc lần cuối cùng của nghệ sĩ Hà Nộị Đoàn Chuẩn nhớ thương hát “Gửi người em gái miền Nam” để rồi bị đấu tố là “tư sản bóc lột”. Rạp xi nê Đại Đồng Phố Hàng Cót bị “tịch thu”. Hoàng Giác ca bài “Bóng Ngày Qua”, thành “tề ngụy”. Bạn bè “phân tán”, chẳng ai c̣n gặp nhau, sợ thành “phản động tụ tập”.

“Chỉ thị Đảng và Uỷ Ban Thành” “phổ biến rộng răi trong quần chúng” là diệt chó. “Toàn dân diệt chó từ thành thị đến nông thôn”. Gậy gộc, dây thừng, đ̣n gánh, nện chết hoặc bắt trói, rồi đầu làng, góc phố “liên hoan tập thể”! Lư do diệt chó nói là trừ bệnh dại, nhưng đó là “chủ trương” chuẩn bị cho đấu tố “cải tạo tư sản” và “cải cách ruộng đất”. Du kích, công an ŕnh ṃ, “theo rơi”, “nắm vững t́nh h́nh” không bị lộ bởi chó sủạ Mọi nơi im phăng phắc ban đêm, mọi người nín thở chờ thảm họạ Hà Nội đói và rách, khoai sắn chiếm hai phần tem gạo, ba mét vải “cung cấp” một năm theo “từng người trong hộ”.

Mẹ may thêm chiếc quần “đi lao động” th́ con nít cởi truồng! Người thành thị làm cật lực, xây dựng cơ ngơi, có ai ngờ bị qui là “tư sản bóc lột”, nhẹ hơn là “tiểu tư sản”, vẫn là “đối tượng của cách mạng”. Nông dân có dăm sào ruộng đất gia truyền vẫn bị qui là “địa chủ cường hào”.

Giáo sư Trương văn Minh, hiệu trưởng trường Tây Sơn, ngày đầu “học tập” đă nhảy lầu tự tử. “Tư sản Hà Nội” di cư hết, chẳng c̣n bao nhiêu nên “công tác cải tạo” được làm “gọn nhẹ” và “thành công vượt mức”, nghĩa là mang bắn một, hai người “điển h́nh”, coi là “bọn đầu xỏ” “đầu cơ tích trữ”, c̣n th́ “kiểm kê”, đánh “thuế hàng hóa”, “truy thu”, rồi “tịch thu” v́ “ngoan cố, chống lại cách mạng”!

Báo, đài hàng ngày tường thuật chuyện đấu tố, kể tội ác địa chủ, theo bài bản của “đội cải cách” về làng “bắt rễ bần cố nông”, “chuẩn bị thật tốt”, nghĩa là bắt học thuộc ḷng “từng điểm”: tội ác địa chủ th́ phải có hiếp dâm, đánh đập, bắt con ở đợ, “điển h́nh” th́ mang thai nhi cho vào cối giă, nấu cho lợn ăn, đánh chết tá điền, hiếp vợ! Một vài vụ do “Đảng lănh đạo, vận động tốt”, con gái, con dâu địa chủ, “thoát ly giai cấp”, “tích cực tố cáo tội ác” cha mẹ.

Cảnh tượng này thật năo nùng! Lời Bác dạy: “Trung với Đảng, Hiếu với Dân” là vậy! “Bần cố nông” cắm biển nhận ruộng được chia, chưa cấy xong hai vụ th́ “vào hợp tác”, “làm ăn tập thể”, ruộng đất lại thu hồi về “cộng sản”!

“Toàn miền Bắc” biết được điều “cơ bản” về Xă Hội Chủ Nghĩa là nói dối! Mọi người, mọi nhà “thi đua nói dối”, nói những ǵ Đảng nóị Nói dối để sống c̣n, tránh bị đàn áp, lâu rồi thành nếp sống, cả một thế hệ hoặc lặng câm, hoặc nói dối, v́ được “rèn luyện” trong xă hội ngục tù, lấy “công an làm ṇng cốt chế độ”!

Ở Mỹ ai hỏi bạn: “How are yoủ”, bạn trả lời: “I am fine, thank you”. Ở miền Bắc, “thời đại Hồ chí Minh”, “cán bộ” hỏi: “công tác thế nàỏ”, dù làm nghề bơm xe, vá lốp, người ta trả lời: “...rất phấn khởi, ra sức thi đua, lập thành tích chào mừng các nước anh em”!

Bị bắt bên bờ sông Bến Hải, giới tuyến chia hai miền Nam Bắc, năm 19 tuổi, tôi bị mang về Lệ Thủy bởi “bộ đội biên pḥng”, được “tự do” ở trong nhà chị “du kích” hai ngày, đợi đ̣ về Đồng Hớị Trải qua 9 trại giam nữa th́ về tới Hỏa Ḷ Hà Nội, vào xà lim. Cảnh tù tội chẳng có ǵ tươi đẹp; xă hội cũng là một nhà tù, không như báo, đài hằng ngày kêu to “Chế độ ta tươi đẹp”. Cơ hàn thiết thân, bất cố liêm sỉ, người tù “biến chất”, người tứ chiếng kéo về, nhận là người Hà Nội, đói rét triền miên nên cũng “biến chất”! Đối xử lọc lừa, gia đ́nh, bè bạn, họ hàng, “tiếp xúc” với nhau phải “đề cao cảnh giác”. Hà Nội đă mất nền lễ giáo cổ xưa, Hà Nội suy sụp tinh thần v́ danh từ “đồng chí”!

Người du lịch Việt Nam ít có ai lên vùng thượng du xứ Bắc, tỉnh Lào Cai, nơi đó có trại tù Phong Quang hà khắc, có thung sâu heo hút, có tù chính trị chặt tre vầu theo “định mức chỉ tiêu”. Rừng núi bao la, tiếng chim “bắt cô trói cột” nấc lên nức nở, tiếng gà gô thức giấc, sương mù quanh năm. Phố Hàng Đào Hà Nội vốn là “con đường tư sản”. Có người trai trẻ tên Kim, học sinh Albert Sarraut, học trường Tây th́ phải chịu sự “căm thù đế quốc” của Đảng, “đế quốc Pháp” trước kia và “đế quốc Mỹ” sau nàỵ Tù chính trị nhốt lẫn với lưu manh, chưa đủ một năm, Kim Hàng Đào “bất măn”, trở thành Kim cụt, bị chặt đứt cánh tay, không thuốc, không “nhà thương” mà vẫn không chết! Phố Nguyễn Công Trứ gần Nhà Rượu, phía nam Hà Nội, có người thanh niên đẹp trai, với biệt danh Phan Sữa, giỏi đàn guitar, mê nhạc Đoàn Chuẩn, đi tù Phong Quang v́ “lăng mạn”, không hành lư đi tù nhưng vẫn ôm theo cây đàn guitar. Chỉ v́ “tiểu tư sản” không “tiến bộ” nên không có ngày về, ba tháng “kỷ luật”, Phan Sữa hấp hối, khiêng ra khỏi Cổng Trời  Hà Giang cao vút, gió núi mây ngàn, th́ chết, tan theo giấc mơ T́nh nghệ sĩ!

Người Hà Nội chết dần, đến thế hệ thứ hai, “xung phong”, “t́nh nguyện” hoặc bị “tập trung cải tạo”, xa rời Hà Nộị Bộ công an “quyết tâm quét sạch tàn dư đế quốc, phản động” nên chỉ c̣n người Hà Nội từ “kháng chiến” về, “nhất trí tán thành” những ǵ Đảng... nói dối!

Tôi may mắn sống sót dù mang lư lịch “bôi đen chế độ”, “âm mưu lật đổ chính quyền”, trở thành người “Hà Nội di cư”, vài năm về Hà Nội đôi lần, khó khăn v́ “tŕnh báo hộ khẩu”, “tạm trú tạm vắng”. Do “kinh nghiệm bản thân”, “phấn đấu vượt khó khăn gian khổ”, số lần tù đă quên trong trí nhớ, tôi lần xuống thành phố Hải Pḥng, vùng biển, là cơ hội ngàn năm một thuở cho người Hà Nội “vượt biên” khi chính quyền Hà Nội chống Tàu, xua đuổi người Hoa ra biển, khi nước Mỹ và thế giới đón nhận “thuyền nhân tị nạn”.

Năm 1980 tôi vào Sài g̣n, thành phố đă mất tên sau ngày “giải phóng miền Nam”. Vào Nam, tuy phải lén lút mà đi nhưng vẫn c̣n dễ hơn “di chuyển” trong các tỉnh miền Bắc trước đâỵ Tôi bước trên đường Tự Do, hưởng chút dư hương của Sàig̣n cũ, cảnh tượng rồi cũng đổi thay như Hà Nội đă đổi thay sau 1954 v́ “cán ngố” cai trị!

Về lại Hải Pḥng với “giấy giới thiệu” của “Sở Giao Thông” do “móc ngoặc” với “cán bộ miền Nam” ở Sài g̣n, tôi đă t́m ra “biện pháp tốt nhất” là t́m những dân chài miền Bắc vùng ven biển. Đă đến lúc câu truyền tụng: “Nếu cái cột điện mà biết đi…!”, dân Bắc “thấm nhuần” nên “nỗ lực” vượt biên.

Năm bốn mươi tư tuổi, tôi t́m được tự do, định cư tại Mỹ, học tiếng Anh ngày càng khá nhưng nói tiếng Việt với đồng hương vẫn c̣n pha chút “ngoại ngữ” năm xưạ Cuộc sống của tôi xưa ở Việt Nam đă đến “mức độ” khốn cùng nên tan nát, thương đaụ Khi đă lang thang đầu đường xó chợ th́ mới đủ “tiêu chuẩn” “xuống thành phần”, lư lịch bấy giờ có thể ghi là “dân nghèo thành thị”, nhưng vẫn không bao giờ được vào “công nhân biên chế nhà nước”. Tôi mang nhẫn nhục, “kiên tŕ” sang Mỹ làm lại cuộc đời nên “đạt kết quả vô cùng tốt đẹp”, “đạt được nguyện vọng” hằng ước mơ!

Có người “kêu ca” về “chế độ tư bản” Mỹ tạo nên cuộc sống lo âu, tất bật hàng ngày, th́ xin “thông cảm” với tôi, ngợi ca nước Mỹ đă cho tôi nhân quyền, dân chủ, trở thành công dân Hoa Kỳ gốc Việt, hưởng đầy đủ “phúc lợi xă hội”, c̣n đẹp hơn tả trong sách Mác Lê về giấc mơ cộng sản.

Chủ nghĩa cộng sản xụp đổ rồị Cộng Sản Việt Nam bây giờ “đổi mới”. Tiếng
“đổi” và “đổ” chỉ khác một chữ “i”. Người Việt Nam sẽ cắt đứt chữ “i”, dù phải từ từ, bằng “diễn biến hoà b́nh”.

Ôi! “Đỉnh cao trí tuệ”, một mớ danh từ!

Posted on Wednesday, February 02 @ 16:38:04 EST by ngochuynh
 
Related Links
· More about Lịch Sử Qua Lời Ke
· News by ngochuynh


Most read story about Lịch Sử Qua Lời Ke:
Phỏng Vấn Nhà Văn Đỗ Văn Phúc

Article Rating
Average Score: 4.5
Votes: 4


Please take a second and vote for this article:

Excellent
Very Good
Good
Regular
Bad

Options

 Printer Friendly Printer Friendly

 
Copyright © 2005 by MachSong, Inc.
PHP-Nuke © 2004 by Francisco Burzi
Mach Song Online.
Publisher: Nguyen Dinh Thang