Mạch Sống Online
· Truyền Thông Mạch Sống
· Trang Nhà BPSOS
· Chống Nạn Buôn Người


Chuyên Mục

:: HĂY CỨU CỒN DẦU
:: Đ̉I TÀI SẢN
:: NGÀY VẬN ĐỘNG CHO VN

40 Năm Tị Nạn
An Toàn Lao Động
Bạo Hành Gia Đ́nh
Chống Nạn Buôn Người
Chủ Quyền Quốc Gia
Cứu Trợ Thiên Tai
Di Dân & Nhập Tịch
Định Cư Nhân Đạo
Lịch Sử Qua Lời Kể
Mái Ấm Gia Đ́nh
Nhân Quyền
Nhân Vật Trong Tháng
Phát Triển Cộng Đồng
Quan Điểm
Sống Đẹp
Sức Khoẻ
Tài Chánh
Tị Nạn
Thế Hệ Trẻ
Thư Toà Soạn
Tin Cập Nhật
Tin Sinh Hoạt
Tin Trang Nhất
Tin Tức Thời Sự
Truyện Ngắn
TPP
Tuổi Hạc
Tù Nhân Lương Tâm
Tự Do Tôn Giáo
Văn Khố Thuyền Nhân
Xoá Bỏ Tra Tấn

Chức Năng Thông Dụng
· Đọc Theo Chủ Đề
· Đọc Theo Số Báo
· Ghi Danh vào Email List
· Quảng Bá Mạch Sống
· Top 15
· Ư Kiến Độc Giả
· Liên lạc ṭa soạn
· Gửi bài cho Mạch Sống
· Phiếu Đóng Góp
· Census 2010
· T́m kiếm

Ghi Danh Nhận Tin
Ghi Danh Nhận Bản Tin Mạch Sống
T́m Kiếm


Hit Counter
We received
19751416
page views since June 01, 2005
MS87 - 10/09: Hương Trầm

Lịch Sử Qua Lời Ke

Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích

Thời kỳ Bắc thuộc, bọn quan lại Trung Hoa bắt dân ta xuống biển ṃ ngọc trai, lên rừng t́m trầm hương, ngà voi, sừng tê giác phải chịu trăm điều gian nguy, khổ ải. Có kẻ ra đi bỏ xác trên rừng. Người được trở về th́ mang bệnh tật suốt đời.

Thời đại ngày nay, sau ngày 30 tháng 4, 1975, cuộc sống của dân ta mỗi ngày mỗi thêm kham khổ. Dân quê phải cào bới trên đồi hoang trồng sắn trồng khoai để có cái ăn. Người ta bắt đầu đào xới dưới đất để t́m vàng. Dọc bờ suối, trên sườn đồi, trong rừng sâu, nơi nào nghi ngờ có quặng vàng là người người bu vào xới tung lên. Có kẻ sập hầm bị chôn sống. Không ít người chết v́ bệnh sốt rét vàng da, chết v́ sơn lam chướng khí... Chưa kể cảnh đâm chém, giành giật , thanh toán nhau v́ vàng. Trong cảnh khốn cùng ấy, nghề t́m trầm hương nổi lên cùng lúc. Nhưng là một nghề đầy hiểm nguy trực diện với thú dữ, nước độc, bệnh tật và muôn vàn cái chết chực chờ.



Phong trào trầm dấy lên từ các vùng nông thôn lan nhanh đến thành thị. Người nghèo mạt hạng bỗng chốc có tí “nổ” chạy nghênh ngang ngoài đường, vàng đeo trên tay lấp lánh. Lại có cả nhà xây vách gạch, mái ngói giữa đám nhà lá vách trét đất bùn rêu ră. Cũng có lắm kẻ vai u thịt bắp trúng trầm bỏ cô vợ chân lấm tay bùn nơi ruộng đồng lấy người con gái nơi thành thị môi son má phấn mà quá khứ đen như đêm ba mươi. Từ hang cùng ngơ hẻm đến quán cóc bên đường làng, đâu đâu cũng nghe bàn tán về trầm.

Ông Hà Lương nguyên là thợ rừng giàu kinh nghiệm, nhiều năm miệt mài trên vùng rừng núi Kontum, Đắc Lắc nôn nao trước làn sóng người đổ xô t́m trầm. Cố ngơ đi mà không được ông bèn bỏ nghề khai thác gỗ chuyển qua t́m trầm. Ông đứng ra làm chủ bầu thành lập toán đi điệu.

Phan Huy Đông hai lần thi đậu đại học nhưng vẫn không được “cắt hộ khẩu” để di chuyển vào thành phố nhập học với lư do cha ruột thuộc diện “Tập trung cải tạo”. Buồn chí, Đông theo bầu điệu đi t́m trầm.

Những chuyên viên t́m trầm có hạng đa phần là người Phú Khánh. V́ vậy ông Lương và Đông phải đích thân vào Phú Yên t́m người nhiều kinh nghiệm. Có sẵn danh sách trong tay nên việc t́m người có khả năng chẳng khó khăn ǵ.

Người đầu tiên là Trần Văn Thí sinh trưởng ở Tuy Phước sống tại thị xă Tuy Ḥa, đă hành nghề đi điệu gần mười năm. Hắn chỉ nh́n da cây dó là biết trong ruột có trầm nhiều hay ít. Bạn bè ví von: “Tề Thiên Đại Thánh có thiên lư nhăn, Trần Văn Thí có tia nh́n xuyên mộc”. Trong buổi tiệc họp mặt tại nhà ông Lương, Thí đă tỏ ra là người sành sơi về nghề t́m trầm, hắn giải thích:

- Trầm hương chỉ được cấu tạo trong cây dó bầu. Loại dó nầy có lá to, dày, thịt cây màu trắng. Cây nào trầm ăn nhiều th́ thịt cây trở thành màu vàng. Cây dó nào suôn đuột ít nhánh ít cành, thân cây cằn cỗi là chắc mẩm có trầm ăn bên trong ruột.

- Tại sao vậy?

Ông Lương vừa châm rượu vào ly cho Thí vừa hỏi. Hít hết hơi thuốc cuối cùng, vứt tàn thuốc qua cửa, Thí giải thích:

- Khi tinh dầu trầm đă thành h́nh nhiều trong ruột, cây sẽ không lớn nổi v́ sức nóng của nó. Những cây dó nầy lâu năm sẽ bị chết khô. Có khi ngả xuống đất rồi bị lá cây rụng chất chồng lên. Lớp thịt bọc ngoài cây dó mục dần chỉ c̣n trơ lại cái lơi trầm.

Thí vừa nói, vừa rút một điếu thuốc Điện Biên, xóc xóc hai đầu:

- “Có một huyền thoại về cây dó bầu trên sáu trăm năm, toàn bộ phần ruột cây dó biến thành kỳ nam nhưng chưa ai t́m thấy. Nhiều người sành nghề trầm, có cơ may bắt gặp mùi hương của nó nên đoán được loại kỳ nam. Đúng giờ Ngọ ngày mùng một và ngày rằm hàng tháng là nó phát tiết. Hương trầm tỏa thơm nồng cả cánh rừng. Người nào đi vào phạm vi tỏa hương của nó cũng ngẩn ngơ, đầu óc mê muội đi, không biết ngày đêm, không biết ḿnh là ai. Đến lúc mùi hương ma quái đó biến mất họ mới sực tỉnh và tiếc nuối. Người mới gặp mùi hương nầy sống trong nỗi hoài nhớ mănh liệt, ba tháng mười ngày sau th́ chết. Đúng Ngọ thi thể họ tỏa ra mùi trầm thơm ngát”. (Theo tác giả Hoa Ngơ Hạnh TNVN)

Đông ngắt lời xen vào:

- V́ vậy mà các nhà nghiên cứu về trầm hương đă đặt tên là “Gỗ của các vị thần”. Theo anh biết th́ đă có điệu nào trúng được kỳ nam chưa?

- Có chứ, đó là trầm thượng đẳng. Gặp nó cũng là cơ duyên “lộc trời cho” của kẻ t́m trầm. Thí ngừng một chặp, gắp một miếng dồi thịt cầy bỏ vào miệng:

- Anh Tư Lương nấu món cầy ngon thật. Quê Tuy Ḥa tôi ít khi được ăn món đặc biệt nầy. Thí nâng ly rượu nếp than mời anh em trong nhóm cùng chúc mừng buổi gặp gỡ. Hắn ngửa cổ tu một hơi rồi đặt ly xuống bàn:

- C̣n một số loại cây dó khác nữa như dó me, dó niệt... nhưng ít khi có trầm ăn trong ruột, hạ nó xuống thêm phí sức mà chẳng được ǵ.
Phận đưa cặp mắt thán phục nh́n Thí rồi lên tiếng:

- Trầm được chia làm mấy loại, thưa anh?

- Trầm hương chia làm nhiều loại tuy không có tiêu chuẩn nào rơ rệt, nhưng cặp mắt chuyên môn của người đi trầm tựa như người chuyên nấu rượu ngày xưa chỉ cần chấm một giọt vào lưỡi là biết nồi rượu đă đủ độ chưa.

Ngoài ra c̣n tùy thuộc vào bọn “tàu kê”. Bọn chuyên viên nầy phân loại trầm độc địa lắm. Chúng nó thông đồng với các công ty dược hoặc các địa điểm thu mua đánh rớt loại hàng của ḿnh, ép giá để ăn chia. Chúng nó có kể ǵ đến mồ hôi, xương máu của kẻ t́m trầm. Đại loại trầm chia làm sáu hạng:

- Sau kỳ nam là trầm búp c̣n gọi là dách. Loại trầm nầy khi vừa đẽo phần gỗ bên ngoài là xuất hiện trầm màu nâu sậm. Gặp loại nầy, có điệu cho là kỳ nam. Nhưng thực ra làm sao sánh được với độ đen của tinh dầu đậm đặc óng ánh của kỳ nam. Trầm kỳ nam gỗ nặng và nhuyễn có đủ vị cay, chua, đắng, ngọt, thơm. Khi cháy, ngọn khói màu xanh, lên thẳng và cao, bay lờ lững rất lâu. Bầu điệu nào mà gặp được Dách cũng coi như trúng độc đắc rồi.

- Loại 1 và 2, trầm được tỉa lấy ra từ thân cây đủ loại h́nh dáng khác nhau nhưng phải có màu nâu đen, miếng trầm có độ dày, phát mùi thơm nhẹ và có vị cay lẫn đắng.

- Loại 3 giống tiêu chuẩn loại 1 và 2 nhưng miếng trầm mỏng và nhỏ hơn, nom không được đẹp mắt.

- Loại 4 và 5 là trầm b́nh thường có chen nhiều màu vàng của gỗ dó.

- Loại trầm bể vụn được cho vào loại “xô”.

Các tay điệu c̣n phân biệt trầm ăn ở nơi nào trên thân cây để đặt tên. Chẳng hạn, trầm ăn theo mắt cây gẫy gọi là “Mắt đẫu”, ăn theo miệng lỗ kiến đục th́ gọi là “Kiến”, ăn trong thân gần cháng hai, cháng ba cây giống h́nh con bướm th́ gọi là “Điệp”.

*  *  *

Sau buổi họp mặt, ông bầu Lương phân công cho từng người phụ trách. Mỗi người phải lo sắm sửa đầy đủ vật dụng. Cơ bản là phải có chiếc ba-lô của bộ đội hay của lính Miền Nam càng tốt. Mang theo 15 ngày Mễ (gạo), Diêm (lương khô), thuốc hút, thuốc chống muỗi, chống vắt, một cái đèn pin, áo mưa và dụng cụ khai thác trầm như rựa, búa, ŕu, bộ đục vũm để tỉa trầm... Riêng phần Đông th́ mang theo xoong nồi và chén đũa.

Rừng Khánh Ḥa th́ nổi tiếng về trầm từ xưa. Nhưng rừng Ba Tơ thuộc tỉnh Quảng Ngăi là tụ điểm mới nhất của “trận chiến khai thác trầm” thời bây giờ. Chính quyền địa phương chỉ cấp giấy phép khai thác trầm cho người chủ bầu có hộ khẩu ở huyện Ba Tơ nhưng được quyền mướn điệu chuyên nghiệp ở các nơi khác tháp tùng. Thời gian đi về giới hạn mười lăm ngày. Trầm khai thác được bắt buộc bán cho công ty dược của nhà nước với giá chỉ bằng nửa giá thị trường. Những toán điệu người kinh từ các nơi đổ xô về đây đều bị chận lại. Tuy nhiên, họ cũng c̣n nhiều hướng khác để đi chui, chỉ xa đường hơn và phải trốn tránh lực lượng kiểm lâm và đoàn quân truy bắt người khai thác trầm lậu.
Trước ngày “ra quân” nhóm bốn người gồm có Lương, Thí, Đông và Phận giữ ḷng thanh sạch, làm lễ ăn thề. Họ thay nhau uống hết ly “Bạch kê huyết” (máu con gà trắng) ḥa với rượu cắt ngay trên bàn thờ khói hương nghi ngút. Vị chủ lễ là một pháp sư người Ra-Đê lần lượt rảy rượu lên đầu bốn thành viên sau khi đọc lời thề: “Nếu có ḷng dạ tráo trở, xin Thần Núi tru diệt”. Sau giờ phút đó họ trở thành anh em kết nghĩa, sống chết có nhau, gặp may cùng hưởng, gặp nạn cùng chia.

Ngày khởi hành nhằm tiết Nguyên tiêu, trời trong, gió mát. Toán điệu theo hướng khu rừng Bồ Nâm thuộc huyện Komplong tỉnh Kontum. Nơi đây rừng núi trùng điệp, nổi tiếng là chốn thâm sơn cùng cốc, nằm giữa biên giới hai tỉnh Quảng Ngăi – Kontum.

Đường đi càng lúc càng khó khăn, phải cắt rừng vượt thác, trèo lên những con dốc đứng đến nỗi mũi chạm đất, người đi sau hôn gót chân người đi trước. Quả là nơi “sơn cùng thủy tận”. Đi suốt ba ngày mới xuất hiện rải rác những cây dó bầu trong khu vực nầy. Ban đêm ngủ trong đon (căn lều) đóng tạm bằng cây rừng che bằng những tấm áo mưa. Đông và Phận thay nhau giữ vai “anh nuôi”. Họ t́m rau tàu bay, măng le cung cấp thêm cho bữa ăn. Ngoài ra c̣n phụ giúp ông Lương và Thí hạ cây dó, cưa từng đoạn , bửa ra làm đôi, xẻ từng mảnh để tỉa phần trầm ăn trong thân cây.

Qua hai ngày “đóng quân” ở khu vực nầy, việc t́m trầm chưa có kết quả ǵ. Vào trưa ngày thứ ba, bỗng, tiếng súng, tiếng ḿn nổ vang rền cùng những đám khói bốc lên ngùn ngụt từ phía xă Hiếu. Sau nầy mới hay toán điệu và dân thượng Sơn Hà đốt nhà để trả thù trai làng của họ bị toán vơ trang dân tộc làng Ngọc Têm bên Kontum giết. Sự việc xảy ra vào hai tháng trước đây, như sau:

Toán điệu ở Sơn Hà đến khai thác trầm vùng giáp ranh huyện Ba Tơ thuộc tỉnh Quảng Ngăi và Komplong thuộc tỉnh Kon Tum. Một toán vơ trang địa phương Bồ Nâm (Kontum) đột nhập bất thần vào lều bắn chết anh điệu đang vo gạo thổi cơm chiều trên bờ suối. Họ cướp hết vật dụng, lương thực và số trầm đă khai thác được trong mấy ngày qua. Toán điệu đi t́m trầm trở về “đon” thấy bạn ḿnh đầu bị đạn bắn vỡ ra, năo sọ văng tung tóe gục chết trên soong gạo. Máu tuôn đầy, biến nồi gạo thành nồi máu. Họ chỉ biết ôm xác bạn mà khóc rồi mang nạn nhân về cho gia đ́nh chôn cất. Hai tháng sau, thân nhân của người chết cùng dân bản làng và các toán điệu hợp lại tràn qua biên giới vào làng Ngọc Têm đốt phá tiêu hủy hầu hết ngôi làng.
Trước t́nh h́nh rối loạn nầy, dân làng bên kia có thể tràn qua ranh giới giết điệu để trả thù. Ông Lương quyết định rời khỏi khu vực hiện tại tiến về hướng khu rừng Ba Xa. Lại phải mất hai ngày sau mới đến nơi. Phần mễ chỉ c̣n lại tám ngày ăn mà trong ba lô chưa có một miếng trầm nào đắc giá. Vừa đến nơi dự định, Phận phát giác được hang đá, tuy không rộng lắm nhưng đủ chứa được bốn người ngủ tạm hàng đêm. Ông Lương và Thí bủa đi t́m cây dó, c̣n Đông quét dọn hang đá, sắp xếp vật dụng đâu vào đấy. Phận xuống suối lấy nước nấu cơm cho buổi chiều.

Suốt hai ngày vất vả hạ cây dó đồ sộ có dấu hiệu có trầm ăn bên trong. Cả ba người vừa cưa vừa chẻ, c̣n Thí với tay nghề tỉa trầm thành thạo cũng lấy được một ít trầm thuộc loại 3 “mắt đẩu”, “kiến” và “điệp” c̣n lại là trầm “xô”. Chừng đó trầm, bọn tàu kê có mua cao tay khoảng vài cây vàng th́ làm sao đủ vốn sắm sửa lo cho chuyến đi tới, mọi người buồn năo nuột.

Ngày hôm sau, ba người lại bủa đi t́m cây dó, Đông ở lại trại lo nấu ăn cho buổi chiều. Hắn đi dọc theo bờ suối, t́m rau tàu bay và định bắt ít ốc đá đem về nấu canh. Chợt, Đông trông thấy bên kia bờ suối nửa con heo rừng c̣n tươi rói. Hai đùi sau, và phần ruột gan bên trong đều bị moi lấy mất. Đông mừng quưnh vác heo về hang đá cắt lấy hai đùi trước làm món xào cho anh em thưởng thức, c̣n lại cái đầu và phần bả vai dành cho bữa ăn hôm sau. Dù không có chút gia vị nào mà hương thịt rừng thơm ngào ngạt. Nồi thịt vừa chín tới th́ ba người kia về đến hang. Phận trố mắt nh́n xoong thịt vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ. Ông Lương và Thí nh́n cái đầu heo rừng treo lủng lẳng trên cành cây trước hang đá, Thí vội hỏi:

- Thịt ở đâu vậy?

Đông hớn hở trả lời:

- Của ai bỏ bên kia bờ suối nửa con heo rừng.

Thí buột miệng:

- Trời ơi, cậu cướp mồi của Ngài, làm sao tránh khỏi báo thù!

Khuôn mặt Thí tái xanh như gà bị cắt tiết. Anh yêu cầu đem trả lại chỗ cũ cái đầu heo rừng và xoong thịt đă chín. Phận giúp Đông mang cả hai món thịt đổ đúng nơi máu heo rừng c̣n đọng vũng. Khi quay về họ ngạc nhiên thấy ông Lương và Thí hạ cây rừng chung quanh chất ngoài miệng hang đá thành một ṿng cung như chuẩn bị cho đêm lửa trại.

Khi cơm nước xong, trời bắt đầu chập choạng tối, ông Lương cho mồi lửa vào đống cây. Thí giải thích:

- “Ăn của rừng rưng rưng nước mắt”. Đó là câu nói từ ngàn xưa để lại. Bọn ḿnh phải đánh đổi mạng sống để cứu vớt cảnh đói nghèo cho gia đ́nh. Tôi biết chắùc chắn nửa con heo rừng ấy là mồi thừa của cọp. Thế nào ổng cũng trở lại t́m mồi. Khi phát giác mồi bị mất là ngài biết khu vực hoạt động của ngài đang có đối thủ tranh giành. Đêm nay ḿnh thay phiên nhau canh thức. Nếu phát giác ngài đến phải báo động hết cả tổ thức dậy khua động và ḥ hét để ngài bỏ đi. Qua được đêm nay, ngày mai ḿnh phải di chuyển đến khu vực khác may ra thoát khỏi sự báo thù.

Đông cảm thấy ḿnh có lỗi đă gây ra sự phiền lụy cho người khác nên t́nh nguyện thức suốt đêm canh chừng để anh em ngủ lấy lại sức. Nhưng ông Lương bảo:

- Cậu là người đi rừng đầu tiên, không biết những điều cấm kỵ. Chúng ta đă coi là anh  em kết nghĩa sống chết có nhau, gặp nạn cùng chia, gặp may cùng hưởng. V́ vậy, sau phiên cậu đến Phận thức canh rồi kêu  tôi dậy và sau cùng là anh Thí. 

Ngọn lửa bùng cháy hừng hực vây kín miệng hang đá. Đông ngồi ngoài miệng hang, tay thủ sẵn cây rựa. Hắn nghĩ đến phản ứng của Thí khi nh́n thấy đầu heo rừng lúc ban chiều có vẽ quá đáng đă khiến cho Đông bất b́nh. Nhưng khi nh́n thấy mặt anh méo xệch, da tái xanh v́ hoảng sợ th́ Đông chợt nhận thức được một tai họa có thực đang chực chờ. Nh́n qua ngọn lửa, bóng tối rừng sâu vây quanh đen nghịt, cây cối phủ kín cả bầu trời, Đông mới thấy con người thật nhỏ nhoi trong cảnh u u minh minh trùng điệp của thiên nhiên. Chàng bây giờ có khác ǵ con sâu, cái kiến bên bờ vực thẳm của sự bất trắc. V́ cuộc sốùng quá cơ hàn mà con người sẵn sàng đương đầu với thú dữ, bệnh tật để giải thoát cảnh tăm tối, lầm than, đớn hèn.

Tiếng chim cú năo nùng chợt vang lên từ ṿm cây trên đầu rồi vỗ cánh bay, khiến ư nghĩ miên man của Đông ngưng laị. Chàng phóng tầm nh́n qua bức tường lửa, bỗng hai đốm sáng như hai chiếc đèn pin màu xanh pha đỏ từ ngoài rọi vào hang đá. Thoạt nh́n, giống như mắt của loài chó trong bóng đêm nh́n vào chiếc đèn xe. Hai đốm sáng đứng yên một chỗ khiến chàng đâm nghi, lạnh cả xương sống bèn vỗ nhẹ ông Lương dậy. Đông chỉ hai đốm sáng trong lùm cây bên kia tường lửa cho ông xem. Ông Lương giật ḿnh bảo thầm: “ngài đến rồi” bèn gọi mọi người thức dậy vừa khua động xoong nồi vừa la ó. Một hồi lâu sau đốm sáng vụt biến mất. Từ lúc đó, cả bốn người cầm rựa ở thế thủ ngồi chờ sẵn sàng chống trả một khi hổ vượt tường lửa tấn công vào hang đá.

Chờ cho ánh sáng ban mai xuyên thủng rừng già, ba người mới xuống suối bảo vệ cho Đông lấy nước về nấâu cơm. Ăn uống xong, tổ điệu cắt rừng đi qua ngả khác. Dù cao tuổi nhất trong bọn nhưng ông Lương rất tháo vát và tỏ ra thành thạo trong việc t́m hướng đi. Không ai biết quá khứ của ông, riêng Đông th́ rơ lắm nhưng giữ kín trong ḷng: “Một thời mạo hiểm nơi núi thẳm rừng sâu của lực lượng Biệt kích”.

Đường đi vô cùng hiểm hóc lên dốc xuống đèo. Đi được nửa ngày đường, chẳng may Đông trượt chân rơi xuống một cái hố sâu đầy dây leo chằng chịt. Mọi người nhanh chân trèo xuống hố phát quang bụi rậm cứu Đông. Bất ngờ, Thí phát giác cây dó cụt ngọn nằm trong đám dây leo dày đặc như tấm lưới phủ lên trên. Không chần chờ phút giây nào, cả bốn người xông vào, kẻ chặt người kéo đám dây leo lẫn gai mây. Thí vào được bên trong lùm gai, đẽo gọt một lúc khá lâu khiến cho ba người đứng bên ngoài hồi hộp đợi chờ. Chợt, từ trong buiï rậm tiếng Thí vang lên ngắt quảng, tắc nghẹn trong cổ họng:

- Trầm... dách... bà... con ơi !

Mọi người như nín thở, ôm chầm lấy nhau nghẹn ngào. Nỗi vui mừng không ngăn được ḍng lệ. Nh́n vào bên trong, Thí cũng đang ôm cây trầm mà khóc. Hương trầm như thần dược vực lại sức mạnh cho mọi người trong những ngày khổ cực vừa qua.

Sáng ngày hôm sau toán điệu quyết định trổ (quay về) với hai ba lô trầm loại dách. Số trầm nầy dấu kín, chỉ bán các loại thường cho công ty dược. Mỗi người chia nhau đồng đều được bốn cây vàng. Ông Lương từ chối nhận  lại tiền chi phí mua sắm ban đầu.

Suốt mười bốn ngày lên núi t́m trầm, mẹ Đông ở nhà mất ăn mất ngủ. Ngày Đông trở về bà  rưng rưng nước mắt than thở:

- Ba Me chỉ có ḿnh con. Lặn lội trong chốn rừng thiêng núi thẳm có ngày bỏ mạng. Ăn của rừng trả lại cho rừng. Con dùng số vàng mồ hôi nước mắt đó lo đút lót cho bọn quan lại nhà nó từ địa phương cho đến huyện tỉnh bằng mọi cách để được chuyển hộ khẩu vào đại học.

* * *

Toán điệu của ông Lương giờ chỉ c̣n có ba người. Thí giới thiệu một người ở cùng quê để thế chân Đông nhưng ông Lương nhất định giữ nguyên ba người , ông giải thích:

- Anh em ḿnh đă ăn thề kết nghĩa, mừng cho Đông nay đă vào được đại học.  Chúng ta có ba người th́ làm việc theo kiểu ba người. Dù không được toại nguyện nhưng Thí chẳng có phản ứng ǵ.

Họ lên đường vào ngày đầu mùa Hạ mà trời lại âm u, không khí ngột ngạt, oi bức. Lần nầy họ tiến thẳng đến khu rừng Ba xa, cách địa điểm trúng trầm đợt trước khoảng một ngày đường. Người ta đồn đăi khu rừng nầy có con hổ ba chân dữ dằn lắm. Trước kia nó thường hay xuống làng Thượng bắt heo của người sắc tộc. Một hôm bị mắc bẫy, hổ tự cắn đứt chân của nó để thoát thân. Ông Lương chần chừ nhưng Thí đốc thúc phải đến đó mới hy vọng có cơ hội được trầm. Những toán điệu  khác v́ sợ hổ không dám vào.

Quả vậy, khu rừng nầy có rất nhiều cây dó đại thụ, cao bốn năm chục mét. Chứng tỏ chưa có chân điệu nào vào đây. Mất mấy ngày xẻ thịt cây dó già nhất mà trầm chỉ ăn trên các cành cây găy c̣n trong giữa thân cây chỉ mới xuất hiện những chuôi trầm mỏng như những mảnh vải đen. Ông Lương đề nghị chuyển qua vùng khác nhưng Thí thấy tiếc rẻ khu vực nầy. Giác quan nhạy bén của người t́m trầm lâu năm cho anh cảm nhận được sự hiện hữu của trầm quanh quẩn đâu đây. Có điều ǵ đó cứ vấn vít bên anh. Một mùi hương rất lạ thỉnh thoảng thoáng qua mà anh bắt gặp chẳng những bằng khứu giác mà cả linh cảm. Một mùi hương quyến rủ lúc hiện ra, lúc biến mất như một linh hồn mà suốt mười năm t́m trầm anh chưa hề nhận biết. Nó không nồng nặc mà chỉ thoáng qua, thanh thoát, ngây ngất. Ông Lương và Phận không cảm nhận được điều Thí mô tả mà chỉ nghe mùi cây dó tươi vừa mới bửa ra. Suốt cả ngày hôm đó Thí cứ thẫn thờ như người mất của quư.

Sáng hôm sau, anh ra phía sau bụi rậm làm cái “công việc vệ sinh” hàng ngày. Trước mặt anh là một lùm dây mây rậm rạp, nh́n sâu vào trong anh thấy một đoạn cây mục ló đầu ra. Dùng chân khợi khợi cho phần gỗ mục rớt ra, anh giật ḿnh kêu lên: -“Trầm”!

Ông Lương và Thí đang ở trong lều nghe tiếng “Trầm” liền tốc áo mưa chạy ra. Họ cấp tốc phát quang bụi dây mây sợi to bằng cổ tay bao phủ cả một vùng. Mấy giờ liền, ba người làm việc cật lực mới khai phá được một lối vào. Phủ lên thân cây mục là một ụ mối như nấm mộ. Họ cào sạch phần trên ụ mối, chợt mọi người giật ḿnh thất kinh. Hiện ra trước mặt họ là bộ xương người. Hai xương cánh tay ôm lấy gộc trầm. Gỡ gộc trầm ra khỏi cánh xương tay, Thí dựng đứng nó lên lấy rựa vạc sạch lớp mối ăn bên ngoài. Bỗng, Thí thảng thốt kêu lên: “Kỳ nam”. Ông Lương có vẻ đăm chiêu, c̣n Phận th́ không ḱm được đôi chân đang run rẩy từ năy đến giờ.

Họ đào hố chôn bộ xương. Điều kỳ lạ là bộ xương người chết tỏa ra hương trầm thơm ngát. Ông Lương lấy một mảnh vỡ kỳ nam đặt vào mộ. Trước khi rời khu vực họ đốùt trầm xông trên ngôi mộ  rồi cắt rừng trở về. Chuyến đi trúng được mẻ lớn nhưng ba người đều có ba ư nghĩ khác nhau. Phần Thí suy tính công của ḿnh mà phải chia đều th́ uất thật. Ông Lương cho rằng ḿnh hưởng tài sản trên xác của người chết chẳng vui sướng ǵ. C̣n Phận th́ bộ xương người cứ ám ảnh nên trông cho mau đến nhà.  

Trên đường về, trong ḷng Thí cứ phân vân. Nửa muốn đ̣i chia cho ḿnh một phần hai số trầm kỳ nam, nhưng sợ hai người kia phản đối,  nửa muốn lén tách đi đường khác để giữ phần ḿnh một ba lô đầy. Sau nầy có tranh chấp th́ chẳng làm được ǵ ḿnh. Đường đi qua một cái đèo cây cối um tùm, Thí bắt đầu đi chậm lại t́m lối rẽ theo ư định sau cùng. Ông Lương nhắc nhở hai người đi sau cẩn thận, phải đi sát vào nhau. Câu nói vừa dứt bỗng, một tiếng ào phát ra rồi một bóng dài lướt qua. Con cọp ba chân đang ngậm cổ kéo xác một người về hướng chân đèo. Ông quay đầu nh́n ra sau, Phận như người chết đứng, gương mặt không c̣n một giọt máu. Một quảng cách khá xa phía sau là chiếâc ba lô trầm của Thí rớt lại trên lối đi. Ông Lương đứng nh́n theo hướng con hổ ḷng đau như cắt. Lần đầu tiên Phận thấy người đàn ông cứng cỏi và dày dạn nầy đă để rơi những giọt nước mắt.

Số trầm mang về bán được ba mươi sáu cây vàng. V́ là công của Thí nên  ông Lương quyết định chia cho Phụng, vợ Trần Văn Thí một nửa là mười tám cây làm vốn, lấy thêm hai cây bỏ vào ngân hàng cho đứa con gái ba tuổi của Thí. Số c̣n lại là mười sáu cây, ông Lương và Phận chia đều. Phận rất thán phục sự ngay thẳng, công minh và tấm ḷng nhân hậu của ông Lương. Hai người cùng vào tậân Tuy Ḥa để thông báo tin buồn cho vợ Thí. Nàng đă vật vă khóc than đau đớn tận cùng. Với số vàng mười tám cây đó  ông Lương hứa sẽ giúp nàng xây dựng một tiệm buôn bán tạp hóa để nuôi con.

* * *

Thời gian thấm thoát trôi qua, Đông miệt mài trên ghế đại học suốt bốn năm. Sau khi làm lễ tốt nghiệp măn khóa, Đông đón xe về quê thăm gia đ́nh. Chiếc xe liên tỉnh đến bến Tuy Ḥa bị hỏng máy. Hành khách phải đợi chờ khá lâu để thay hộp số xe bị bể. Nhân dịp nầy Đông t́m đến nhà Thí. Căn nhà mà ngày trước chàng và ông Lương đă t́m đến đây mời Thí tham gia vào tổ t́m trầm nay đă là một cửa hiệu bán tạp hóa khá khang trang. Đông qua lại, nh́n vào nhà vài ba lượt, rồi bỏ đi. Chợt có tiếng gọi “Đông”, chàng quay lại, thấy một người đàn ông trên tay bồng một đứa bé đứng sau quày hàng. 

-  Chú Lương! Chú vào đây bao giờ? Đông mừng rỡ kêu lên.

Ông Lương đưa bàn tay chắc nịch bắt tay Đông rồi mời chàng ngồi xuống chiếc ghế đẩu . Ông vừa ru đứa bé vác trên vai vừa nh́n chàng trả lời:

- Tôi vào ở luôn trong nầy đă hơn một năm nay.

- Thế anh Thí đâu ?

- Thí đă mất cách đây bốn năm, bị cọp vồ trong chuyến đi trầm ba người, sau khi cậu vào đại học. Rồi ông Lương kể tóm lược chuyến đi trầm cuối cùng như đă ghi lại ở phần trên. Bỗng thằng bé cựa ḿnh thức giấc, ông vỗ vỗ vào lưng nó ru:

Mây mưa mấy giọt chung t́nh.
Đỉnh trầm hương khóa một cành mẫu đơn.”

Hai câu thơ trong Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn Gia Thiều, ông Lương vừa ru nghe thật xót xa và cũng đầy ư nghĩa.

Thằng bé nằm yên trên vai, ông Lương ngỏ lời:

- Hôm nay là ngày kỵ của Thí, vợ chồng tôi mời cậu ở lại dùng cơm để có dịp chú cháu ḿnh tâm sự. Cậu độ nầy trông chững chạc và rắn rỏi lắm.

Chị Phụng từ nhà trong bước ra thấy Đông, đứng khựng lại. Ông Lương liền giới thiệu:

- Đây là Đông, cậu ấy đi trầm chuyến đầu tiên với ba con Thúy, nhưng sau đó cậu được vào đại học ở Sài G̣n. Trên đường về quê cậu ghé thăm em. Phụng cúi đầu chào rồi rót nước mời Đông.

- Nhân tiện xin phép chị cho em thắp cúng anh Thí nén hương, Đông ngỏ lời.
Phụng vồn vă đưa Đông lên căn gác lỡ. Bàn thờ của anh Thí đặt giữa pḥng vừa đường bệ vừa trang nghiêm. Khói trầm màu xám xanh mong manh như sợi tơ quyện lấy tấm ảnh bán thân của anh Thí đặt sau bộ tam sự. Hương trầm xông lên thơm ngát, một mùi thơm thanh khiết, dịu nhẹ khiến cho con người lâng lâng rơi vào trạng thái thâm nghiêm, trầm mặc. Bên di ảnh của anh Thí là tượng con hổ ba chân được khắc rất nghệ thuật bằng lơi trầm kỳ nam.
Chị phụng cầm ba cây nhang từ tay Đông cắm vào b́nh, Chị nói :

- Tượng con hổ đó là do anh Lương mướn thợ điêu khắùc tận Sài G̣n bằng chính gộc trầm do anh Thí t́m thấy để chị nhớ măi ngày anh Thí bị nó vồ. Sau khi anh Thí mất, nếu không nhờ sự giúp đỡ của anh Lương, không biết đời chị và cháu Thúy sẽ trôi nổi ra sao. Trên đời nầy rất khó kiếm được người như anh Lương, tháo vát trong cuộc sống lại hiền ḥa và bao dung. Chị thương anh ấy, dù tuổi đời có chênh lệch đôi chút. Anh sống như người tu hành từ sau ngày Bảy lăm. Chị nghĩ có lẽ hồn thiêng của anh Thí đă khiến chị lấy anh Lương để ngày nay có được mụn con trai mà thuở sinh tiền cha mẹ chị ước ao.
Sợ chiếc xe khách bỏ lại, Đông vội vàng từ biệt ra bến xe mặc dù vợ chồng ông Lương cố nài chàng ở lại. Ngồi trên xe, chợt ḷng Đông bùi ngùi nhớ lại lời anh Thí như c̣n văng vẳng bên tai: “Ăn của rừng rưng rưng nước mắt”.

Xe chạy bon bon trên quốc lộ I. Tiếng máy xe nổ đều đều đưa Đông vào cơn mê thiếp. Chàng mơ thấy anh Thí gương mặt tái xanh đăm đăm nh́n Đông rồi thốt lên: “ Trời ơi, cậu cướp mồi của Ngài, làm sao tránh khỏi báo thù!”     

Bất chợt hương trầm kỳ nam tỏa thơm nồng. Mùi hương ma quái phủ ngập cả giấc mơ khiến Đông choàng tỉnh. Lồng ngực chàng nghe nặng trĩu và hương trầm c̣n thoang thoảng đâu đây.

[Nguyệt San Mạch Sống thuộc hệ thống truyền thông của Uỷ Ban Cứu Người Vượt Biển: http://www.machsong.org.] 

Posted on Tuesday, September 22 @ 15:50:40 EDT by ngochuynh
 
Related Links
· More about Lịch Sử Qua Lời Ke
· News by ngochuynh


Most read story about Lịch Sử Qua Lời Ke:
Phỏng Vấn Nhà Văn Đỗ Văn Phúc

Article Rating
Average Score: 0
Votes: 0

Please take a second and vote for this article:

Excellent
Very Good
Good
Regular
Bad

Options

 Printer Friendly Printer Friendly

 
Copyright © 2005 by MachSong, Inc.
PHP-Nuke © 2004 by Francisco Burzi
Mach Song Online.
Publisher: Nguyen Dinh Thang